Tin tức
Tin tức mới
Nước Nuôi Cá Tra “Tinh Khiết” Hơn Nước Uống Đóng Chai
Chuyện nghe có vẻ nghịch lý nhưng thực tế hiện có khá nhiều thông số về nồng độ các chất ô nhiễm trong vùng nước ngọt nuôi thuỷ sản được quy định thấp và chặt chẽ hơn cảnước uống đóng chai. Nhiều người cho rằng với thông số như vậy nước nuôi thủy sản nói chung và nước nuôi cá tra nói riêng còn “tinh khiết” hơn cả nước uống đóng chai!
Theo Phụ lục 13 Thông tư 02/2006/TT-BTS ngày 20/3/2006, Bộ Thuỷ sản quy định một số chỉ tiêu về nồng độ các chất ô nhiễm trong vùng nước ngọt nuôi thuỷ sản thấp hơn cả nước uống đóng chai (theo TCVN 6096-2004 - tiêu chuẩn nước uống đóng chai). Cụ thể là:
Chất Asen (thạch tín) được qui định trong nước nuôi thủy sản là 0,001 mg/l nhỏ hơn 10 lần quy định trong nước uống đóng chai. Chất Cadimi quy định trong nước nuôi thủy sản là 0,001 thấp hơn 3 lần trong nước uống đóng chai. Chất Nitrit quy định trong nước nuôi thủy sản là 0,01 mg/l thấp hơn 2 lần so với 0,02 mg/l trong nước uống đóng chai. Chất Florua quy định trong nước nuôi thủy sản bằng với nước uống đóng chai là 1,5 mg/l. Các chất Xyanua, Tổng độ phóng xạ α, Tổng độ phóng xạ β đều không được cho phép có mặt trong nước nuôi thủy sản, trong khi đó nước uống đóng chai đều có quy định hàm lượng tỷ lệ cho phép của các chất này lần lượt là: 0,07 mg/l; 0,1 Bq/l và 1 Bq/l.   
Như vậy, chỉ tiêu cho phép về nồng độ chất ô nhiễm trong nước nuôi thuỷ sản được quy định còn nghiêm ngặt và chặt chẽ hơn cả nước uống đóng chai. Phải chăng điều này là bất hợp lý trong quy định nước nuôi thủy sản hay trong quy định nước uống đóng chai “có vấn đề”?
Khách hàng Châu Âu hiện rất chú trọng nguồn gốc của sản phẩm thuỷ sản. Họ muốn biết trong quá trình nuôi cá tra, thuốc có để lại dư lượng trên sản phẩm hay không. Những sản phẩm đạt chuẩn Global GAP sẽ giúp khách hàng an tâm hơn khi sử dụng. Cá tra được nuôi theo tiêu chuẩn Global GAP sẽ có lợi thế về giá và dễ dàng vượt qua các rào cản kỹ thuật khi xuất vào những thị trường khó tính. Vì vậy nhiều doanh nghiệp đã và đang xây dựng vùng nuôi cá tra theo tiêu chuẩn Global GAP với nhiều tiêu chuẩn khắt khe về việc ghi chép sổ sách, con giống, thức ăn, xử lý nước thải và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, khi xây dựng chương trình quản lý chất lượng nuôi cá tra theo tiêu chuẩn Global GAP, các doanh nghiệp hiện “vướng” phải “mớ bòng bong” với các quy định chồng chéo của các cơ quan quản lý.
Theo phản ánh của một doanh nghiệp nuôi cá tra ở Đồng Tháp, quy chế quản lý vùng và cơ sở nuôi cá tra ban hành cùng quyết định 70/2008/QĐ-BNN ngày 5/6/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định nước thải từ ao nuôi cá tra phải được xử lý đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng nước thải theo quy định tại Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6774:2000 và Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942–1995. Nhưng trong TCVN 5942–1995 lại khẳng định rằng “nước dùng trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản có quy định riêng”, nhưng quy định riêng này lại không được nói rõ ở văn bản nào khiến doanh nghiệp rất lúng túng khi thực hiện. Trong khi đó, Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Tháp khi phân tích mẫu nước ao/nước ao lắng đều so sánh kết quả với Tiêu chuẩn TCVN 5945:2005 là tiêu chuẩn của nước thải công nghiệp – Tiêu chuẩn thải.  
Thiết nghĩ các cơ quan chức năng xem xét lại qui định giá trị giới hạn cho phép về nồng độ các chất ô nhiễm trong vùng nước ngọt nuôi thuỷ sản tại Phụ lục 13 Thông tư 02/2006/TT-BTS ngày 20/3/2006 của Bộ Thuỷ sản và các quy định có liên quan khác. Các qui định này gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi xây dựng các vùng nuôi cá tra an toàn, cần phải xem xét sửa đổi tiêu chuẩn cho phù hợp.
VASEP
Đang online: 10 | Lượt truy cập: 331976